Tìm hiểu về đa thai trong thụ tinh ống nghiệm

Tác giả:
5/5 - (2 bình chọn)

Kể từ khi ra đời tới nay, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đã mang tiếng cười trẻ thơ tới cho hàng triệu gia đình trên khắp thế giới. Có thể ví IVF là cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh, hiếm muộn. Tuy nhiên, một trong những rủi ro lớn nhất của kỹ thuật này chính là mang đa thai – điều tưởng chừng như mang tới niềm hạnh phúc vô bờ nhưng lại có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho mẹ và bé. Bài viết dưới đây sẽ trình bày rõ hơn về đa thai trong thụ tinh ống nghiệm, mời bạn cùng theo dõi! 

1. Đa thai là gì?

Đa thai được hiểu đơn giản là trong một lần mang thai có từ hai thai nhi trở lên phát triển đồng thời trong tử cung của người mẹ. Trong đó, sinh đôi chiếm tỷ lệ cao nhất, còn các trường hợp sinh ba, sinh tư,… thường rất ít gặp. 

Các chuyên gia cho biết, có hai trường hợp có thể dẫn tới hiện tượng đa thai, gồm:

  • Đa thai xảy ra do có nhiều hơn một trứng rụng và cùng được thụ tinh thành công trong một chu kỳ, kết quả tạo ra nhiều phôi cùng phát triển bên trong tử cung. Trường hợp này gọi là đa thai khác trứng, những đứa trẻ sinh ra thường có những đặc điểm khác nhau. 
  • Ở trường hợp còn lại, chỉ có duy nhất một trứng được thụ tinh song trong quá trình phân chia lại tạo thành nhiều phôi. Những em bé sinh ra có cùng bộ gen nên thường có cùng giới tính và hình dáng bên ngoài. Trường hợp này gọi là đa thai cùng trứng. 
Đa thai cùng trứng (trái) và đa thai khác trứng (phải)
Đa thai cùng trứng (trái) và đa thai khác trứng (phải)

Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ đa thai tự nhiên chỉ chiếm khoảng 3% trong cộng đồng. Tuy nhiên, với các trường hợp thụ tinh ống nghiệm thì tỷ lệ này lên tới 20-25%. 

Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Tại sao thụ tinh ống nghiệm lại dễ mang đa thai? Những rủi ro nào có thể xảy ra khi mang đa thai? 

Những vấn đề này sẽ được giải đáp trong các phần tiếp theo, mời bạn cùng theo dõi nhé!

2. Tại sao thụ tinh ống nghiệm dễ mang đa thai?

Thụ tinh ống nghiệm được đánh giá là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiệu quả, được áp dụng phổ biến nhất trong điều trị vô sinh, hiếm muộn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa phương pháp này đảm bảo khả năng mang thai 100%. Thực tế, tỷ lệ thành công của IVF chỉ đạt khoảng 40-45%. 

Hiệu quả của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của phôi. Tuy nhiên, trong số những phôi được tạo ra, có những phôi có chất lượng kém hoặc có bất thường về di truyền nên khả năng làm tổ và phát triển trong tử cung sau khi chuyển phôi là rất khó khăn. Do đó, các bác sĩ thường có xu hướng chuyển nhiều phôi trong mỗi chu kỳ để tối ưu khả năng mang thai. Trung bình số phôi mỗi lần chuyển là 2-3 phôi, tuy nhiên những trường hợp tiên lượng khó như người mẹ lớn tuổi, phôi chất lượng kém nhiều,… thì số phôi chuyển trong một lần có thể lên tới 4-5 phôi với hy vọng sẽ có ít nhất 1 phôi có thể sống sót và phát triển thành công. 

Như vậy, có thể thấy rằng, chính việc chuyển nhiều phôi trong một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm là nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ đa thai cao. 

Ngoài ra, còn một lý do chủ quan khác khiến bác sĩ quyết định cấy nhiều phôi trong một lần chính là nhu cầu sinh đôi hoặc sinh ba của một số cặp vợ chồng. 

Chuyển nhiều phôi trong một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm là nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ đa thai cao. 
Chuyển nhiều phôi trong một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm là nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ đa thai cao.

3. Rủi ro khi mang đa thai

Với các cặp vợ chồng hiếm muộn, việc mang thai sau một thời gian dài chờ đợi là điều hạnh phúc vô bờ. Niềm hạnh phúc ấy còn được nhân lên gấp bội nếu kết quả là sinh đôi hay sinh ba,… Tuy nhiên, xen lẫn niềm vui mang đa thai bạn sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Lý do là bởi, tử cung của người phụ nữ được tạo ra chỉ để nuôi dưỡng 1 đứa trẻ đủ tháng. Vì vậy, khi có thêm một hay nhiều bào thai khác cùng tồn tại và phát triển thì nguy cơ xảy ra biến chứng cho mẹ và bé là rất cao. 

Biến chứng có thể xảy ra với mẹ:

  • Sảy thai: Nguy cơ sảy thai tăng lên theo số lượng thai nhi. Cụ thể, tỷ lệ sảy thai đối với thai phụ mang 4 thai là 25%, mang 3 thai là 15%, mang thai đôi là 8%. Ngoài ra, nguy có thai chết lưu ở các ca mang đa thai cũng cao gấp 5 lần so với trường hợp mang đơn thai. 
  • Tiền sản giật: Đây là biến chứng sản khoa nguy hiểm có thể đe dọa tới tính mạng người mẹ. Tiền sản giật thường xảy ra bắt đầu từ tuần thứ 20 của thai kỳ với các triệu chứng đặc trưng: tăng huyết áp, phù và protein trong nước tiểu cao. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới chức năng của các cơ quan trong cơ thể. Tiền sản giật nặng sẽ chuyển thành sản giật gây co giật. Trong trường hợp, người mẹ bị tiền sản giật trong thai kỳ thì em bé cần được sinh ra sớm dù chưa đủ tháng. Biến chứng này xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn ở các bà mẹ mang đa thai. 
Mẹ bầu mang đa thai có nguy cơ cao bị tiền sản giật
Mẹ bầu mang đa thai có nguy cơ cao bị tiền sản giật
  • Tiểu đường thai kỳ: Dù không có tiền sử bị tiểu đường trước đây nhưng khi mang thai, mẹ bầu vẫn có nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ, đặc biệt là những bà mẹ đang mang đa thai. Tình trạng này làm tăng nguy cơ mang tiền sản giật gây nguy hiểm cho mẹ. Bên cạnh đó, nếu mẹ bị tiểu đường thì em bé sinh ra có thể gặp phải các vấn đề về hô hấp, vàng da sơ sinh hoặc gây dị tật bẩm sinh,…
  • Trầm cảm sau sinh: Khi mang thai, nội tiết tố trong cơ thể bị rối loạn, ảnh hưởng tới tâm trạng, tính cách của người mẹ. Với những mẹ bầu mang đa thai thì nguy cơ trầm cảm khi mang thai lại càng cao hơn. 
  • Sinh non: Sinh con trước tuần thứ 37 của thai kỳ được coi là sinh non. Theo thống kê, có tới gần 60% các trường hợp sinh đôi và 90% các ca sinh ba là sinh non. 
  • Sinh khó: Bất thường về ngôi thai và số lượng em bé nhiều khiến quá trình trở dạ của người mẹ rất khó khăn. Tỷ lệ sinh mổ lấy thai ở các ca đa thai cao hơn rất nhiều so với các ca sinh đơn thai. 
  • Rau bong non: Đây là một tình trạng cấp cứu sản khoa, xảy ra do rau bong trước khi thai nhi sổ ra ngoài. Nếu không được can thiệp kịp thời sẽ gây nguy hiểm tới tính mạng của cả mẹ lần bé do sốc mất máu. Những mẹ bầu mang đa thai có nguy cơ rau bong non cao hơn cả.

Biến chứng có thể xảy ra với con:

  • Dị tật thai: Nguy cơ bị dị tật bẩm sinh của những trẻ được sinh ra từ các ca đa thai cao gấp đôi bình thường. Những dị tật thường gặp ở trẻ bao gồm: nứt đốt sống tủy, các bất thường về tiêu hóa và tim, bại não,… 
  • Hội chứng truyền máu song thai: Thường xảy ra ở những thai nhi có chung 1 bánh rau với tỷ lệ 15%. Đặc trưng của hội chứng này là một thai nhi sẽ truyền máu cho thai nhi còn lại. Điều này dẫn tới mất cân bằng lưu lượng máu giữa 2 em bé. Nếu không được can thiệp sớm thì nguy cơ thai nhi tử vong lên tới 100%. 
  • Sức khỏe của trẻ kém: Khi ở trong bụng mẹ, thai nhi phải san sẻ chất dinh dưỡng với nhau nên ảnh hưởng tới sự phát triển. Ngoài ra, đa phần những em bé trong các ca mang đa thai là sinh non nên một số cơ quan còn chưa phát triển đầy đủ. Điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý như: suy hô hấp, vàng da, viêm phổi, chậm phát triển, bệnh võng mạc,…
Hội chứng truyền máu song thai thường xảy ra ở những thai nhi có chung 1 bánh rau
Hội chứng truyền máu song thai thường xảy ra ở những thai nhi có chung 1 bánh rau

4. Các cách giảm đa thai trong thụ tinh ống nghiệm

Mang đa thai tiềm ẩn những nguy hiểm cho cả mẹ và bé. Vì vậy, giảm đa thai là vấn đề quan trọng cần được cần đặt ra khi thực hiện thụ tinh ống nghiệm. 

Có 2 cách để giảm đa thai trong thụ tinh ống nghiệm là:

  • Chủ động giảm số lượng phôi trong mỗi lần chuyển phôi
  • Giảm thiểu thai nhi

4.1. Giảm thiểu thai nhi

Giảm thai trong các trường hợp đa thai là việc loại bỏ bớt thai nhi trong tử cung của người mẹ.

Vậy giữ lại tối đa bao nhiêu thai nhi?

Các chuyên gia cho biết, khi thực hiện thụ tinh ống nghiệm, có người sẽ mang thai đôi, thai ba hoặc thậm chí nhiều hơn. Những trường hợp này đều được cân nhắc giảm thai để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé. Thông thường, người mẹ được giữ tối đa 2 thai. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định như sức khỏe người mẹ không đủ điều kiện hoặc 2 thai phát triển không tốt thì bác sĩ sẽ tư vấn chỉ nên giữ lại 1 thai. 

Giảm thai nên được thực hiện khi thai nhi được khoảng 6-13 tuần tuổi, tốt nhất ở thời điểm 7-8 tuần tuổi. 

Tùy thuộc vào tuổi thai mà bác sĩ sẽ sử dụng kỹ thuật giảm thai phù hợp như hút mô thai khi thai nhỏ, bơm KCl vào buồng tim thai nếu thai kỳ ở cuối tam cá nguyệt 1 hay đầu tam cá nguyệt 2. 

Các thủ thuật giảm thiểu thai không quá phức tạp song có thể gây ra các biến chứng như sảy thai hoàn toàn, nhiễm trùng, sinh non, thai chết lưu. 

Do đó, hiện nay, để giảm tỷ lệ đa thai khi thực hiện IVF, các bác sĩ thường chủ động giảm số lượng phôi trong mỗi lần chuyển. 

Giảm đa thai là biện pháp giúp đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé
Giảm đa thai là biện pháp giúp đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé

4.2. Giảm số lượng phôi chuyển

Chúng ta đều biết rằng, lý do chính dẫn tới tình trạng đa thai trong thụ tinh ống nghiệm là do chuyển nhiều phôi trong chu kỳ. Vì vậy, để giảm thiểu tỷ lệ mang đa thai thì biện pháp duy nhất là giảm số lượng phôi chuyển trong mỗi chu kỳ. 

Tuy nhiên điều này lại khiến nhiều người băn khoăn và lo lắng về khả năng thành công khi chỉ chuyển một phôi trong mỗi chu kỳ. 

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Thực hành Sinh sản Hoa kỳ cho thấy, tỷ lệ thành công của IVF khi chuyển một phôi là 45%, trong khi chuyển 2 phôi là 42%. 

Một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, việc chuyển hai phôi trong một chu kỳ, trong đó một phôi có chất lượng tốt và một phôi có chất lượng kém làm giảm tỷ lệ mang thai thấp hơn 27%. Theo các chuyên gia, lý do dẫn tới tình trạng này có thể là do phôi chất lượng kém  khiến cơ thể sinh ra phản ứng từ chối tiếp nhận và điều này sẽ ảnh hưởng tới phôi khỏe mạnh còn lại. 

Từ các nghiên cứu đã được triển khai, các nhà khoa học đi tới kết luận, tỷ lệ thành công khi chuyển một phôi tương đương với khi chuyển nhiều phôi trong chu kỳ thụ tinh ống nghiệm.

Vì vậy, hiện nay ở Mỹ, các cơ quan y tế hàng đầu như Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), Hiệp hội Y học sinh sản Hoa Kỳ (ASRM), Hiệp hội Công nghệ hỗ trợ sinh sản (SART), đều khuyến nghị chuyển một phôi cho các bệnh nhân IVF. 

Tại Anh, Tổ chức Phôi học và sinh sản Anh (HFEA) đã phát động chiến dịch “một lần một phôi” từ năm 2007 nhằm giảm tỷ lệ đa thai khi thực hiện IVF. Kết quả thu được, tỷ lệ chuyển một phôi trong IVF đã tăng từ 13% (năm 1991) tới 75% (năm 2019). Cùng với đó, tỷ lệ đa thai trong thụ tinh ống nghiệm cũng giảm từ 28% (năm 1990) xuống còn 6% (năm 2019).

Hiện nay, nhờ công nghệ hiện đại mà các chuyên gia sản khoa có thể lựa chọn được những phôi có chất lượng tốt để đảm bảo khả năng thành công khi cấy vào tử cung: 

  • Xét nghiệm sàng lọc tiền làm tổ (PGS): giúp xác định các bất thường về di truyền gây sảy thai. 
  • Kỹ thuật Time lapse-photography: Đây là tủ nuôi cấy phôi nhiều ngăn có tích hợp kính hiển vi và camera ở mỗi ngăn. Điều này giúp chuyên viên phôi học có thể dễ dàng theo dõi sự phát triển của phôi để từ đó phát hiện nhanh chóng những bất thường trong quá trình phân chia. 
  • Chuyển phôi nang: Phôi nang là phôi được nuôi cấy tới ngày 5. Trong thực hành IVF tiêu chuẩn, phôi được chuyển sau 3 ngày nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên hiện nay, nhiều trung tâm hỗ trợ sinh sản lựa chọn chuyển phôi nang bởi ở giai đoạn này khả năng làm tổ trong tử cung của phôi tốt hơn. Hơn nữa việc chuyển phôi ngày 5 cho phép các bác sĩ có thêm thời gian để sàng lọc phôi bởi hầu hết các phôi có chất lượng kém đều không thể phát triển được tới giai đoạn phôi nang. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ mang thai của nhóm chuyển phôi ngày 5 là 42.85%, trong khi của nhóm chuyển phôi ngày 3 là 36.6%.
  • Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng: giúp loại bỏ lớp màng bọc bên ngoài phôi, từ đó cải thiện khả năng làm tổ.

Hi vọng những thông tin có trong bài viết trên sẽ giúp bạn giải đáp các thắc mắc liên quan tới đa thai trong thụ tinh ống nghiệm. Sinh nhiều em bé trong một lần mang thai chắc hẳn là điều mà rất nhiều người mong muốn. Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui thì việc mang đa thai có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng cả mẹ và bé. Vì vậy, trước khi thực hiện IVF, bạn nên trao đổi với bác sĩ để được tư vấn phương án tối ưu nhất. Mọi thông tin thắc mắc về tình trạng sức khỏe tinh trùng, xét nghiệm tinh dịch đồ, các bệnh lý sinh sản nam giới và sản phẩm ANDROSITOL PLUS hãy liên hệ ngay đến số điện thoại miễn cước 1900 866 605 ngay nhé!

5/5 - (2 bình chọn)

Andrositol Plus – Sản phẩm hỗ trợ sinh sản chuyên sâu cho nam giới sản xuất và nhập khẩu trực tiếp từ Ý

Cải thiện rõ các chỉ số tinh trùng sau 3 tháng sử dụng

  • Cải thiện số lượng, mật độ tinh trùng. Tăng cơ hội đậu thai
  • Giảm độ vón cục, cải thiện độ nhớt tinh dịch, giúp tinh trùng bơi nhanh hơn
  • Cải thiện hình thái, giảm dị dạng tinh trùng
  • Tăng phản ứng acrosome/phản ứng thụ tinh của tinh trùng và trứng.
Andrositol Plus
Andrositol Plus

Dành cho:

  • Nam giới đang ở tuổi sinh sản mong muốn tăng cơ hội thụ thai
  • Nam giới có chỉ số tinh dịch đồ kém: tinh trùng yếu, tinh trùng ít, mật độ tinh trùng thấp, tinh trùng dị dạng và tốc độ di chuyển chậm
  • Nam giới được chuẩn đoán vô sinh – hiếm muộn đang chuẩn bị thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản IVF (thụ tinh ống nghiệm), IUI, ISCS
  • Nam giới có tinh trùng loãng hoặc tinh trùng vón cục
  • Nam giới trong độ tuổi suy giảm chức năng sinh sản.

Sản phẩm được cấp bằng Chứng nhận sáng chế Châu Âu và đã có 5 kiểm nghiệm lâm sàng về hiệu quả tại EU. Sản phẩm đã được nghiên cứu lâm sàng và chứng minh hiệu quả qua các dự án được thực hiện tại bệnh viện chuyên khoa Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. 

Andrositol Plus được phân phối độc quyền bởi công ty cổ phần dược phẩm Cysina

Sản phẩm được bán tại các bệnh viện & phòng khám sản trên toàn quốc.

Hãy gọi về số Hotline 1900 866 605 hoặc kết nối Zalo để được các Dược sĩ chuyên môn hỗ trợ, giải đáp tất cả thắc mắc về vô sinh hiếm muộn ở nam giới.

Đặt mua Andrositol Plus chính hãng tại đây

Giấy phép quảng cáo: 3467/2021/XNQC-ATTP

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Tác giả:

Câu hỏi thường gặp

  • Deal hot giá tốt
Đặt câu hỏi cho chuyên gia